Tài liệu cũ của Saigon Echo
từ 2008 - 2012
Play
Giám Đốc: Tiến Sĩ Trần An Bài
  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Di Sản Obama: Nước Mỹ Suy Yếu Và Trung Cộng Hung Hăng Tại Biển Đông

My Va Trung Cong
Trong di sản của mình, Tổng Thống Barack Obama không chỉ khiến thế giới trở nên hỗn loạn hơn, mà còn làm suy giảm nghiêm trọng sức mạnh của nước Mỹ.

Với chính sách thận trọng đầy thiện chí của Obama dành cho Trung Cộng – quốc gia cường bạo nhất thế giới này đã chớp lấy cơ hội “ngàn năm có một” để đẩy mạnh một mạng lưới các “pháo đài” đảo nhân tạo trên Biển Đông, hòng kiểm soát tuyến đường hàng hải quan trọng bậc nhất thế giới trong thế kỷ 21.

Trong cuộc tranh luận của các ứng viên Cộng Hòa trên truyền hình vào tháng 2/2016, Thượng Nghị Sĩ Marco Rubio bị chế giễu vì ông nhắc đi nhắc lại rằng: “Hãy bỏ ngay suy nghĩ rằng Barack Obama không biết mình đang làm gì. Ông ta biết chính xác mình đang làm gì”. (1)

Marco Rubio được coi là một trong những thượng nghị sĩ Cộng Hòa “nhạy cảm”, thường xuyên lên án ĐCSTQ, và quan điểm của ông về Barack Obama vào thời điểm ấy chưa hẳn tất cả mọi người đều đồng ý: Đó là Tổng Thống Obama đang thực hiện kế hoạch cố ý làm suy giảm, làm tổn hại, hoặc thậm chí là phá hủy hoàn toàn nước Mỹ…

Thượng Nghị Sĩ Marco Rubio cho rằng Tổng Thống Obama đang thực hiện kế hoạch cố ý làm suy giảm, làm tổn hại, hoặc thậm chí là phá hủy hoàn toàn nước Mỹ…

Trung Quốc nắn gân, coi thường – tân tổng thống bày tỏ thiện chí

Năm 2009 khi mới nhậm chức, Tổng Thống Barack Obama bắt đầu nhiệm kỳ đầu tiên với sự kỳ vọng duy nhất vào lợi ích chung với Trung Quốc.
Chỉ trích chủ nghĩa đơn phương của Tổng Thống George W Bush và hạ thấp yếu tố cam kết của chính quyền tiền nhiệm, Tổng Thống Obama đề nghị mối quan hệ PCC (Tích Cực, Hợp Tác và Toàn Diện) thay thế CCC (Hợp Tác, Xây Dựng và Thẳng Thắn) của Tổng Thống G.Bush với Trung Cộng.

Phải chăng khi sử dụng từ ‘Tích Vực’ thay thế ‘Thẳng Thắn’, ông Obama đã phản ánh quan điểm của chính quyền ông phải miễn cưỡng khi thách thức Trung Quốc về các vấn đề bất đồng nhạy cảm?
 Và khi sử dụng từ “Toàn Diện”, Tổng Thống Obama hé lộ lập trường “bắt tay” với Trung Quốc.  

Tháng 11/2009 – 10 tháng sau khi nhậm chức – Tổng Thống Obama đã có chuyến thăm đầu tiên tới Trung Cộng.
Khi đó, ông được xem là một nhà lãnh đạo có tư tưởng tiến bộ, mang theo “làn sóng” đầy thiện chí với Trung Cộng và trong ưu thế Đảng Dân Chủ của ông đang kiểm soát quốc hội.  

Thời điểm lần đầu tiên sang thăm Trung Cộng dưới vai trò tổng thống Mỹ, Obama được xem là một nhà lãnh đạo có tư tưởng tiến bộ, mang theo “làn sóng” đầy thiện chí với Trung Cộng.
Đặt mối quan hệ lợi ích với Trung Cộng lên hàng đầu, trong bối cảnh nền kinh tế nước Mỹ đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Tổng Thống Obama phát biểu trên tờ The Times rằng, mục tiêu của ông là “cải cách tài chính, chứ không phải là nhà lãnh đạo của thế giới tự do”.

Giới lãnh đạo ĐCSTC đã coi phát biểu này là dấu hiệu của sự yếu đuối, và nhanh chóng thực hiện cương lĩnh ngoại giao “dằn mặt” để thể hiện một lập trường mạnh mẽ hơn trên sân khấu thế giới: Đó là làm bẽ mặt nguyên thủ của cường quốc hàng đầu thế giới.
Trong khi các bài phát biểu của các tổng thống tiền nhiệm Bill Clinton và George W Bush đều được Bắc Kinh cho truyền hình trực tiếp, thì bài phát biểu của Tổng Thống Obama tại Tòa Thị Chính ở Thượng Hải lại không hề.

Trong các cuộc họp báo chung với Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào, Tổng Thống Obama cũng bị “chặn” không cho được tiếp xúc công khai, và thậm chí không có được một cuộc họp báo có ý nghĩa.
ĐCSTC đã kiểm soát gần như mọi hoạt động của tổng thống Mỹ trên đất nước họ.

Orville Schell, một nhà nghiên cứu về Trung Cộng cho biết: “Ông ấy không được phép nói nhiều. Người Trung Cộng chỉ cho ông ấy gặp gỡ những người họ ấn định”.
‘Sự cố ngoại giao’ thể hiện thái độ coi thường của Trung Cộng đối với Tổng Thống Obama trong chuyển thăm Trung Quốc vào năm 2016.
Để so sánh, Thủ Tướng Angela Merkel đi trên thảm đỏ (trái), ông Obama đi lối cửa sau của máy bay bằng thang thường (phải).


Sự đối xử đầy khiếm nhã của Bắc Kinh chưa dừng tại đó.
Trong cuộc hội kiến với Tổng Thống Obama, Thủ Tướng Ôn Gia Bảo nói thẳng với nhà lãnh đạo Mỹ rằng, Trung Cộng không đồng ý với chữ “G2” – ám chỉ đã soán ngôi độc quyền của nước Mỹ.

Khi vừa mới nhậm chức, Tổng Thống Obama từng đặt hy vọng Bắc Kinh sẽ hợp tác với Mỹ – mà ông gọi là nhóm G2 – để giải quyết các vấn đề nổi bật trên thế giới.
Obama cũng chính là người đã tìm cách tiếp cận với nhà lãnh đạo ĐCSTQ, và quyết định không gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma để tránh làm Bắc Kinh nổi giận.
Barack Obama cũng là vị tổng thống Mỹ đầu tiên đến thăm Trung bật ngay năm đầu nhiệm kỳ.
Tuy nhiên, chuyến thăm đầu tiên này của ông đã phải nhận quả đắng.

Chưa đầy 1 tháng sau, tại Hội Nghị Thượng Đỉnh Khí Hậu Copenhagen tại Đan Mạch, Trung Cộng đã có cử chỉ coi thường tổng thống Mỹ khi chỉ cử một thứ trưởng Bộ Ngoại Giao tới tham dự sự kiện dành cho các nguyên thủ quốc gia thế giới.
Vì sợ làm mất lòng Trung Cộng, Tổng Thống Obama đã né tránh không gặp đức Đạt Lai Lạt Ma.

Gần 2 năm sau, ngày 12/1/2011, tờ China Daily đăng bài: Trung Cộng sẽ trở thành quốc gia số 1 thế giới.
Đáng chú ý là bài báo này được đăng ngay trước thềm chuyến thăm cấp nhà nước đầu tiên của Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào tới Washington gặp Tổng Thống Obama.

Liệu có thể tin bài báo này xuất hiện một cách ngẫu nhiên trên tờ báo ngôn luận của ĐCSTC, và lại còn thảo luận một cách công khai Trung Cộng là quốc gia hàng đầu thế giới?
Đơn giản, đó là một tín hiệu táo bạo cho thấy ĐCSTC “bắn tin” cho ông chủ Tòa Bạch Ốc về dự định “soán ngôi” số 1 của nước Mỹ.

Trong chuyến thăm đầu tiên tới Trung Cộng, Tổng Thống Obama đã thể hiện sự khiêm nhường và đầy thiện ý, như thể để đảm bảo với lãnh đạo ĐCSTC rằng, nước Mỹ không phải tìm cách kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Cộng.

Nhưng nhà lãnh đạo ĐCSTC trong chuyến thăm đầu tiên tới Mỹ – không phải để thể hiện sự khiêm nhường giống như ông Obama đã từng làm với họ – mà là để công khai cho chính quyền Obama thấy ý định rõ ràng rằng, Trung Cộng sẽ thống trị thế giới.
Là tổng thống của một cường quốc hàng đầu về quân sự và kinh tế, nhưng sự nhún nhường có phần yếu nhược của ông Obama trước Trung Cộng càng khiến quốc gia độc tài này trở nên hung hăng hơn bao giờ hết và quyết liệt giành lấy vị thế số 1 của nước Mỹ.

Chuyến thăm 4 ngày trên đất Mỹ của ông Hồ Cẩm Đào đã được Tổng Thống Barack Obama tiếp đón bằng lễ nghi long trọng nhất, với thảm đỏ và yến tiệc tại Tòa Bạch Ốc.

Nhưng liệu có ngẫu nhiên hay không khi ông Obama mở tiệc chiêu đãi vào tối ngày 19/1/2011, cũng đúng là ngày cách đó 37 năm về trước, Trung Cộng xua quân xâm chiếm Hoàng Sa của Việt Nam (19/1/1974).
Đó phải chăng là khúc dạo đầu “nhường ngôi” của Hồ Cẩm Đào cho Tập Cận Bình, để ĐCSTC bắt đầu một cuộc viễn chinh ồ ạt tại Biển Đông…

Obama im lặng, Trung Quốc lấn tới

Bất chấp đại dịch, tình hình Biển Đông trong những ngày này lại nóng lên bởi các hành động ngỗ ngược gây hấn, chèn ép, tấn công của Trung Cộng trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của các quốc gia Đông Nam Á.

Chính quyền Tổng Thống Donald Trump đã liên tiếp lên án các hoạt động khiêu khích, yêu cầu Trung Cộng dừng các hành vi bắt nạt, cũng như gửi các tín hiệu cảnh cáo mạnh mẽ tới chính quyền Bắc Kinh, đồng thời điều tàu chiến tới Biển Đông trong những ngày gần đây.

Trong bối cảnh này, hầu như các nhà quan sát, chuyên gia quân sự và nguyên thủ các nước có chủ quyền đang tranh chấp đều tập trung tìm cách đối phó với động thái tiếp theo của Trung Cộng tại Biển Đông.
Nhưng tất cả đều quên mất một điều rằng, tình huống phức tạp này bắt nguồn từ sự xử lý yếu đuối và bạc nhược của chính quyền tiền nhiệm Obama, đã hà hơi tiếp sức cho Trung Cộng ồ ạt xâm lấn.

Tình huống phức tạp trên biển Đông bắt nguồn từ sự xử lý yếu đuối và bạc nhược của chính quyền tiền nhiệm Obama, đã hà hơi tiếp sức cho Trung Cộng ồ ạt xâm lấn.
Tháng 2/2009, khi vừa mới nhậm chức, Tổng Thống Obama đã công bố kế hoạch cắt giảm quân số lính Mỹ đóng tại nước ngoài từ 160.000 xuống còn 50.000 quân vào tháng 8/2010, bao gồm cả việc loại bỏ tất cả các lực lượng chiến đấu.
Lực lượng quân đội còn lại, sẽ được rút hết vào cuối năm 2011.

Từ nhiều năm nay, Bắc Kinh đã thèm muốn kiểm soát Biển Đông cả về tài nguyên thiên nhiên lẫn địa hình chiến lược.
Nhưng cuộc thâu tóm Biển Đông của Trung Cộng đã diễn ra “sôi động” nhất trong 8 năm nhiệm kỳ của Tổng Thống Obama.
Năm 2010, chính quyền Obama bắt đầu vào cuộc khi Trung Cộng đe dọa, buộc tập đoàn Exxon Mobil của Mỹ phải ngừng khai thác ở vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Tại Hội Nghị ASEAN tổ chức tại Hà Nội (2010), bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton khi ấy đã tuyên bố rằng, giải quyết tranh chấp ở Biển Đông là ưu tiên ngoại giao hàng đầu của chính quyền Obama.
Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tại Biển Đông thực sự bắt đầu vào tháng 4/2012 khi Tổng Thống Obama bước vào nhiệm kỳ thứ hai.

Chính quyền Bắc Kinh đã lùa tàu chiếm giữ toàn bộ rạn san hô có tên là Bãi Cạn Scarborough, thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.
Đây là lần sử dụng vũ lực táo bạo nhất của Trung Cộng tại khu vực này.
Tháng 6/2012, một phái đoàn ngoại giao do Trợ Lý Bộ Trưởng Ngoại Giao Kurt Campbell dẫn đầu đứng ra làm trung gian cho thỏa thuận hòa bình, nhưng Trung Cộng ngay tức thời phá vỡ.

Một tháng sau, Trung Cộng tiếp tục leo thang bằng cách phong tỏa một phần Bãi Can – nơi nhiều thế hệ người Philippines đã đánh bắt thủy sản tại đây – và ban hành lệnh cấm đánh cá 15 hải lý quanh rạn san hô.
Lúc này, có một điều thực sự kỳ lạ gây chú ý xảy ra: Chính quyền Obama đã hoàn toàn giữ im lặng trước cuộc khủng hoảng mới này.

Đối với Bắc Kinh, đây không khác gì là một tín hiệu gợi mở khuyến khích Trung Cộng tiến sâu hơn vào vùng lãnh thổ của Philippines, và tạo ra thế tranh chấp.
Một số quan chức Trung Cộng hé lộ rằng: “Chúng tôi không thể tin rằng Mỹ đã không phản ứng gì”.

Đối với chính quyền Obama, tổng thống Mỹ coi đó là một tranh chấp nhỏ, và không muốn mạo hiểm sử dụng răn đe nhằm tránh đối đầu với Trung Cộng.
Một cựu quan chức Mỹ tiết lộ, Tổng Thống Obama không muốn có bất kỳ sự xáo trộn nào làm ảnh hưởng đến mối quan hệ với Trung Cộng.

Đối với Philippines – đồng minh thân cận của Mỹ đang trong thế bị chính quyền Obama bỏ rơi, lại không có lực lượng hải quân đủ mạnh để thực thi các biện pháp chống lại Trung Cộng, đã đệ đơn kiện lên Tòa An Trọng Tài Thường Trực của Liên Hợp Quốc vào tháng 1/2013.

Tổng Thống Obama coi đó là một tranh chấp nhỏ, và không muốn mạo hiểm sử dụng răn đe nhằm tránh đối đầu với Trung Cộng, từ đó có thể làm xáo trộn, ảnh hưởng đến mối quan hệ với quốc gia này.
Philippines đã trở thành “cú hích” cho các quốc gia nhỏ bé trong khu vực tự tin hơn, khi nước này không chỉ giới hạn tại Bãi cạn Scarborough, mà còn kiện luôn đường 9 đoạn khét tiếng của Trung Cộng – chiếm tới hơn 80% diện tích Biển Đông, bao trùm cả Bãi Cạn Scarborough, quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Vụ kiện này của Philippines cùng lúc thách thức quyền lực của Trung Cộng, trong việc nước này tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý quanh các đảo Vành Khăn và Chữ Thập ở Trường Sa (Philippines gọi là Mischief Reef và Fiery Cross Reef), nơi chính quyền Bắc Kinh đang bận rộn xây dựng các tiền đồn quân sự vững chắc.

Câu hỏi đặt ra là, liệu một quốc gia hiếu chiến và xảo trá như Trung Cộng sẽ tuân theo các quy tắc quốc tế, hay tiếp tục kéo đội tàu đi xâm chiếm Biển Đông?
Tất nhiên, vế thứ nhất sẽ khó xảy ra, và vế thứ hai lại càng khó xảy ra nếu không phải vì sự thất bại của Tổng Thống Obama khi đối phó với Bãi Cạn Scarborough.

Ngoài việc kiêng dè Trung Cộng, thất bại của Hoa Kỳ trong chính sách ngoại giao tại Bãi Cạn Scarborough còn có “công” rất lớn của bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton đối với chính sách Xoay Trục Châu Á – Thái Bình Dương (CA-TBD), cùng với việc Tổng Thống Obama cắt giảm số lượng tàu chiến Mỹ xuống mức thấp kỷ lục trong nhiều thập kỷ qua.

Obama tuyên bố Xoay Trục Châu Á, Trung Cộng “bắt bài”

Ngay từ thời G.W.Bush, tổng thống thứ 43 này đã nhiều lần tuyên bố rằng không có khu vực nào quan trọng hơn đối với nước Mỹ là khu vực CA-TBD.
Trong chiến lược toàn cầu, Tóa Bạch Ốc coi đây là khu vực địa-chiến lược, địa-chính trị trọng yếu, quan hệ trực tiếp đến an ninh quốc gia và vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ.

Tháng 10/2011, Tổng Thống Barack Obama và Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã lần lượt tuyên bố chiến lược “xoay trục” sang CA-TBD “để bảo đảm và duy trì vai trò lãnh đạo thế giới của nước Mỹ” với nhiều mục tiêu, trong số đó bao gồm việc đối phó với sự quyết đoán ngày một gia tăng của Trung ở Hoa Đông và Biển Đông.

Tuy nhiên, trong khi bà ngoại trưởng Mỹ loan rộng chiến lược Xoay Trục sang Châu Á, thì ở Tóa Bạch Ốc, Tổng Thống Obama lại cắt giảm quân số và chi tiêu quốc phòng.
 Điều đó chả khác gì làm suy yếu chính lực lượng hải quân cần thiết để thực thi chiến lược Xoay Trục này.

Với động thái của Obama-Clinton, các nhà quan sát lúc đó đã hoài nghi:
Tuyên Bố Xoay Trục có thể chỉ là một nỗ lực “quan hệ công chúng” của chính quyền Obama, và chỉ có ý nghĩa trên mặt “giấy tờ”, nhằm làm có vẻ đây là một chính sách phù hợp, công nhận tầm quan trọng của phía Tây Thái Bình Dương, hòng lôi kéo sự chú ý của người dân Mỹ vào các sáng kiến của chiến lược này.
Trong khi bà ngoại trưởng Mỹ loan rộng chiến lược Xoay Trục sang Châu Á, thì ở Tòa Bạch Ốc, Tổng Thống Obama lại cắt giảm quân và chi tiêu quốc phòng.

Vào thời điểm ấy, Tổng Thống Obama đang phải đối mặt với các vấn đề đối nội cũng như chính sách đối ngoại bê bết, đặc biệt là sự bế tắc Nga-Ukraine và sự trỗi dậy của ISIS ở Trung Đông.
Kể từ khi ông Obama nhậm chức, Trung Cộng đã đầu tư rất nhiều vào việc mở rộng các khu đảo nhân tạo phi pháp để ngăn chặn Mỹ đến bảo vệ các nước “yêu sách” ở Biển Đông.

Trung Cộng cũng ráo riết  gia nhập cùng Mỹ và Nga, trở thành cường quốc hạt nhân mới với khả năng phóng hỏa tiễn đạn đạo hạt nhân từ tàu ngầm, trên không và trên bộ.
Việc Obama cắt giảm sâu ngân sách quốc phòng khiến quân đội Mỹ gặp khó khăn trong việc phát triển khả năng chống lại hiện đại hóa quân đội của Trung Cộng.

Ngân sách quốc phòng Mỹ giảm dần đều, 2009 là hơn 691 tỷ đô la thì đến 2015 chỉ còn 580 tỷ đô la (2).
Từ 2011 – 2015, ngân sách quốc phòng Mỹ đã giảm 21% trong khi ngân sách quân sự của Trung Cộng tăng 38%. (3)
Việc Obama cắt giảm sâu ngân sách quốc phòng khiến quân đội Mỹ gặp khó khăn trong việc phát triển khả năng chống lại hiện đại hóa quân đội của Trung Cộng.

Điểm yếu của chiến lược Xoay Trục không phải là khái niệm mà là vật chất, không phải là những lời tuyên bố hùng hồn mà là ở hành động.
Xoay trục CA-TBD có nghĩa là khu vực này đã trở lại là trọng tâm an ninh quốc gia của nước Mỹ.

Điều đó có nghĩa là chính quyền Obama phải điều chuyển 60% hạm đội hải quân sang phía Tây Thái Bình Dương, nhưng ngược lại, Obama lại giảm số lượng tàu chiến xuống mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ.

Một quan chức Mỹ nói rằng, việc cắt giảm ngân sách này “ở mức thấp kỷ lục mọi thời đại”: Quân số giảm, nhóm tàu tác chiến thì già nua, và từng là biểu tượng của sự bất khả xâm phạm – nhóm hàng không mẫu hạm của Mỹ trông ngày càng cổ xưa.

Vì vậy, các đồng minh của Mỹ tại CA-TBD lo lắng đặt câu hỏi, liệu chiến lược Xoay Trục Châu Á chỉ đơn thuần là bài hùng biện của Obama?
Giới lãnh đạo ĐCSTQ dường như “bắt ý” được mục đích Xoay trục của chính quyền Obama còn nhanh hơn thế nhiều.

Để “đối phó” với nước Mỹ của Obama chỉ có củ cà rốt (là tài hùng biện), và cây gậy nhỏ (cắt giảm quân số và chi tiêu quốc phòng), Trung Cộng nhanh chóng tung các hạm đội tàu chiến, tàu hải cảnh và tàu dân quân biển trá hình lấp đầy khoảng trống trên Biển Đông do thiếu vắng bóng tàu của lực lượng hải quân Mỹ.

Obama ngó lơ, Trung Cộng cưỡng đoạt Biển Đông

Trong vòng ba năm, từ 2013-2015, Trung Cộng đã đẩy mạnh hoạt động cải tạo đất trên các rạn san hô và đảo san hô trong chuỗi đảo Trường Sa ở Biển Đông, nơi mà Việt Nam, Philippines, Đài Loan, Malaysia và Brunei tuyên bố có chủ quyền.

Từ năm 2013-2015, Trung Cộng đã đẩy mạnh hoạt động cải tạo đất trên các rạn san hô và đảo san hô trong chuỗi đảo Trường Sa ở Biển Đông.
Các tàu Trung Cộng đã làm việc với tốc độ “kinh hoàng”, nạo vét các bến cảng mới, trung bình mỗi ngày đã “xuất hiện” thêm 96,5m2 diện tích đất trên Biển Đông, trong khi đội cần cẩu hoạt động hết công suất để bồi đắp các đảo nhân tạo trên mỏm các rạn san hô chìm.

Tháng 9/2013, Trung Cộng bắt đầu các hoạt động nạo vét, bồi đắp, cải tạo trên diện rộng tại năm điểm đảo là Châu Viên, Chữ Thập, Gạc Ma, Ga Ven và Ken Nan mà Trung Cộng chiếm đóng trái phép của Việt Nam. Năm 2014, Trung Cộng ráo riết thúc đẩy các hoạt động này hơn nữa, và so với quần đảo Hoàng Sa thì Trường Sa được Trung Cộng chú trọng đẩy mạnh cải tạo hơn.

Năm 2014 có thể nói là năm Trung Cộng đẩy mạnh xây đảo một cách điên cuồng nhất, khởi đầu bằng việc bồi đắp trái phép 7 bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam thành các đảo nhân tạo với bến cảng, đường băng và căn cứ quân sự kiên cố, nơi Trung Cộng bố trí thường trực một số lượng lớn tàu ngầm, máy bay ném bom và chiến đấu cơ trong khu vực.

Mỗi tuần, dường như lại có tin tức về một đảo nhân tạo phi pháp của Trung Cộng đang được cải tạo gấp rút.
Ở sâu dưới lòng Biển Đông, tình hình trở nên tồi tệ hơn khi Trung Cộng giành quyền kiểm soát bằng cách xây dựng một mạng lưới radar ngầm.
Trên bầu trời Biển Đông, Trung Cộng thiết lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ).

Bỏ qua các yêu sách của các nước láng giềng, Trung Cộng đơn phương tuyên bố sáp nhập hơn 80% diện tích Biển Đông, mà không gặp phải bất cứ rào cản nào từ phía chính quyền Obama, trong khi các nước tranh chấp chỉ có cách duy nhất là yếu ớt phản đối.
 Chiến lược ngoại giao sai lầm, hành động bất nhất với lời nói trong 8 năm của Tổng Thống Obama là thời cơ vàng để Trung Cộng hiện thực hóa ý đồ chiếm trọn Biển Đông.

Một quan chức cấp cao của Mỹ đã mô tả mức độ của việc xây đảo trong năm 2014 là “chưa từng có từ trước đến nay”.
Báo cáo thường niên của Bộ Quốc Phòng Mỹ ngày 8/5/2015 cũng cho biết, Trung Cộng “đã mở rộng diện tích các đảo họ đang chiếm trong Biển Đông lên gấp khoảng 400 lần”.

Ngũ Giác Đài yêu cầu tuần tra, Tòa Bạch Ốc từ chối

Là đồng minh của một số quốc gia trong khu vực tranh chấp với Trung Quốc, Mỹ có nghĩa vụ bảo vệ họ theo hiệp ước khi bị tấn công.
Bởi không một quốc gia nào ở Châu Á, hay một liên minh các quốc gia Châu Á có đủ sức mạnh quân sự để có thể kiềm chế Trung Cộng.

Sự hung hăng của Trung Cộng trong các tranh chấp ở Biển Đông được coi là “phép thử” cho chính quyền Obama trong việc giữ gìn hiện trạng, và ngăn chặn sức mạnh của Trung Cộng ở Tây Thái Bình Dương.
Tuy nhiên Tổng Thống Obama không bao giờ chấp nhận lập luận ngăn chặn, và hoài nghi về mối đe dọa của Trung Cộng đối với lợi ích của Mỹ và các đồng minh.

Trước sự “án binh bất động” của ông chủ Nhà Trắng, Lầu Năm Góc đã thúc đẩy Tòa Bạch Ốc cần có lập trường mạnh mẽ và quyết đoán hơn đối với Trung Cộng.
Tổng Thống Obama không bao giờ chấp nhận lập luận ngăn chặn, và hoài nghi về mối đe dọa của Trung Cộng đối với lợi ích của Mỹ và các đồng minh.

David Shear, trợ lý bộ trưởng Quốc Phòng khu vực CA-TBD đã lập luận rằng, việc xây đảo nhân tạo của Trung Cộng có thể cho phép quốc gia độc tài này cải thiện khả năng phòng thủ và tấn công, cũng như mở rộng sự hiện diện của hải quân Trung Cộng ở phía nam Biển Đông.

Đô Dốc Harry Harris, tư lệnh Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương đã “thuyết phục” Obama bằng một chiến dịch bền bỉ làm rõ hồ sơ “chiếm đất” của Trung Cộng, và đề xuất biện pháp răn đe mạnh không chỉ đối với cuộc diễn tập hải quân, mà còn bao gồm các chuyến bay trinh sát hàng hải để ngăn chặn cái mà ông gọi là ‘Vạn Lý Trường Thành’ trên Biển Đông của Trung Cộng.

Bộ Trưởng Quốc Phòng Ash Carter lúc đó đã yêu cầu xem xét các lựa chọn, bao gồm cử máy bay giám sát và điều các tàu chiến của Mỹ áp sát phạm vi 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo.
Tiếc thay, …


Switch mode views: